TÔ TỬ GIÁNG KHÍ THANG (Hòa tễ cục phương)


 1-    Thành phần:
-    Tô tử                     :                       8-12g
-    Trần bì                  :                       4-6g
 -    Nhục quế             :                       2g (Xung phục)
 -    Hậu phác             :                       6-8g
 -    Sinh khương       :                       3 lát
 -    Tiền hồ                            :                       8-12g
 -    Chế Bán hạ         :                       6-12g
 -    Đương qui                       :                       12g
 -    Chích thảo          :                       4-6g
(Có bài bỏ Nhục quế gia Trầm hương)
 2-    Cách dùng: sắc nước uống (nguyên phương các vị thuốc tán bột mỗi lần uống 6-12g với nước sôi ấm).
 3-    Tác dụng: Giáng khí bình suyễn, ôn hóa đàm thấp.
 4-    Giải thích bài thuốc:
 Đây là bài thuốc thường dùng để chỉ chứng ho suyễn. Trong bài, Tô tử bình suyễn chỉ khái, chế Bán hạ giáng nghịch trừ đàm là chủ dược, Hậu phác, Trần bì, Tiền hồ phụ thêm chủ dược để tuyên phế giáng khí hóa đàm chỉ khái, Nhục quế ôn thận nạp khí để trị thận khí hư, Đương qui cũng có tác dụng trị ho khí nghịch (theo Bản thảo kinh) còn có tác dụng bố huyết, hoạt huyết làm giảm bớt tính táo của các vị thuốc, Cam thảo hòa trung, Sinh khương hòa vị giáng nghịch, các vị cùng dùng có tác dụng giáng khí trừ đàm, bình suyễn.
 5-    Ứng dụng lâm sàng:
 Bài thuốc này chủ trị chứng ho suyễn, đàm thịnh khó thỏ, ngực dầy tức, rêu lưỡi trắng hoạt, trường hợp đàm nhiều khó thở nặng, không nằm được gia Trầm hương để tăng tác dụng giáng khí bình suyễn. Nếu còn chứng biểu phong hàn bỏ Nhục quế, Đương qui gia Ma hoàng, Hạnh nhân, hoặc Tô diệp để sơ tán phong hàn.
Trên lâm sàng thường dùng để chữa các bệnh: Viêm phế quản mãn, hen phế quản, tâm phế mãn, có triệu chứng ho khó thở nhiều đàm có hiệu quả nhất định.

0 nhận xét:

Đăng nhận xét