NGŨ TÍCH TÁN (Hòa tễ cục phương)


1- Thành phần:
Bạch chỉ, Xuyên khung, chích Thảo, Phục linh, Đương qui, Nhục quế, Bạch thược, chế Bán hạ mỗi thứ 120g.
- Trần bì                     :           240g
- Chỉ xác (sao)                      :           240g
- Ma hoàng                :           240g
- Thương truật           :           960g
- Can khương                        :           160g
- Cát cánh                  :           480g
- Hậu phác                 :           160g
 2- Cách chế và dùng: Nhục quế, Chỉ xác tán bột riêng, các vị khác trộn lẫn sao chung từ từ cho đổi màu tán bột thô. Mỗi lần uống 12g cho vào 3 lát Gừng tươi sắc uống nóng.
3- Tác dụng: Tán hàn, giải biểu, ôn trung, tiêu tích.
4- Giải thích bài thuốc:
Trong bài, các vị Ma hoàng, Bạch chỉ phát hãn giải biểu; Can khương, Nhục quế ôn trung, tán hàn cùng trừ nội ngoại hàn đều là chủ dược, Thương truật, Hậu phác táo thấp kiện tỳ, tiêu thực tích, Cát cánh, Chỉ xác thăng giáng khí, làm tan khí trệ; Đương qui, Xuyên khung, Bạch thược hoạt huyết tiêu ứ huyết; Bán hạ, Trần bì, Bạch linh táo thấp hóa đàm, tiêu đàm tích; Cam thảo hòa trung. Các vị thuốc hợp thành bài thuốc có tác dụng tiêu 5 loại tích: hàn, thực, khí, huyết, đàm... nên gọi là ngũ tích tán.
5- Ứng dụng lâm sàng:
Bài thuốc chữa chứng biểu lý đều hàn. Lúc dùng thường tùy chứng gia giảm: Nếu biểu hàn nặng thay Nhục quế bằng Quế chi, chứng biểu không rõ bỏ Ma hoàng, Bạch chỉ, biểu hư ra mồ hôi bỏ Ma hoàng, Thương truật, lý hàn nặng gia Ngô thù du, thương thực nặng gia Sơn tra, Thần khúc, Mạch nha.
Bài thuốc có tác dụng hành khí hòa huyết nên có thể dùng cho bệnh nhân đau bụng kinh, kinh nguyệt không đều, bỏ thuốc giải biểu gia chế Hương phụ, Diên hồ sách để điều kinh chỉ thống.

0 nhận xét:

Đăng nhận xét